Livermore’s Experience – Phần VII: Lợi nhuận trên 3 triệu $

VII. The Three Million Dollar Profit – Lợi nhuận trên 3 triệu $

          Trong những phần trước thầy đã chỉ ra vì sự thiếu kiên nhẫn, thầy đã bị loại bỏ khỏi cuộc chơi, cuộc chơi nếu thầy vẫn kiên nhẫn tham gia đã có thể đưa về cho thấy một khoản lợi nhuận lớn. Bây giờ thầy sẽ miêu tả trường hợp, ở đó thầy đã đợi và kết quả của sự kiên nhẫn đợi thời điểm tâm lý.

Mùa hè năm 1924 lúa mì đạt tới mức giá mà thầy xác định như là điểm cơ sở, vì thế, thầy đã mở giao dịch đầu tiên với mua quyền mua 5 triệu dạ lúa mì. Khi đó thị trường lúa mì khá là lớn, cho nên lệnh mua đó không là ảnh hưởng đến giá của nó. Lệnh này có thể giống như lệnh mua một cổ phiếu có tính thanh khoản cao với lượng mua khoảng 5000 cổ phiếu.

Ngay sau khi lệnh được thực hiện, thị trường trở lên yếu đi vài ngày, nhưng không bao giờ giảm xuống dưới điểm cơ sở. Sau đó lại tăng lên, và vượt qua khoảng vài % hơn điểm cao nhất trước đó, rồi từ đó lại có một sự điều chỉnh bình thường khác và rồi thị trường lại yếu trong vài ngày sau đó lại lấy lại sự phục hồi của mình.

Ngay sau khi nó tới điểm cơ sở tiếp theo, thầy đặt lệnh mua thêm 5 triệu dạ nữa. Nó được khớp với giá trunh bình là 1 điểm ½ cent cao hơn điểm cơ sở. Điều đó chỉ cho thầy rõ một điều rằng thị trường đang nằm trên hướng tăng mạnh. Tại sao? Bởi rằng thầy khó mua hơn nhiều trong lần mua thứ 2 so với lần trước đó.

Sang ngày tiếp theo, thị trường lại thể hiện như khi thầy đặt những lệnh đầu tiên, nó tăng lên 3 cent, và điều đó cũng đủ để thầy tin rằng thị trường đang đi đúng hướng theo như phân tích của thầy. Chỉ đến thời điểm này thì mới bắt đầu phát triển xu hướng tăng thành điều có thể nói thực sự là thị trường con “bò”. Thị trường bắt đầu một biến động lớn mở rộng và nó sẽ diễn ra trong ít nhất vài tháng cho tới vài năm. Nhưng thầy hoàn toàn không hiểu hết được những điều có thể tới.

Sau đó, khi thầy có lợi nhuận khoảng 25 cent cho mỗi dạ lúa, thầy đổi nó thành tiền mặt đúng như phương pháp sử dụng tài sản của mình, sau đó thầy còn chứng kiến thị trường tăng thêm 20 cent trong vài ngày sau đó.

Ngay khi đó thầy hiểu rằng thầy đã làm một sai lầm lớn. Tại sao thầy lại sợ đánh mất cái gì đó, cái mà thầy không có trong thực tế? Thầy đã quá theo quy tắc chuyển lợi nhuận trên giấy tờ thành tiền mặt, trong lúc đó thầy phải trở lên kiên nhẫn hơn và có lòng dũng cảm để hoàn thành công việc tới cuối cùng. Thầy biết rằng, trong thời gian đáng kể, khi mà xu hướng tăng của thị trường đạt tới điểm cơ sở của mình, nhưng thầy bị cảnh báo bởi vì quãng thời gian của xu hướng đã khá dài. Lúc này thầy nhận ra, cần có một nguyên nhân lớn hơn thế để kết thúc một giao dịch đang có lãi.

Thầy một lần nữa vào lại thị trường với giá trung bình sau các lần đặt lệnh là 25 cent cao hơn giá mà tại đó thầy đã đóng giao dịch đầu tiên của mình. Trong thầy có đầy đủ lòng tự tin để mở một giao dịch bằng khoảng 50% lượng cổ phiếu thầy đã bán lúc đầu. Thầy sẽ giao dịch cho tới khi nào những dấu hiệu nguy hiểm xuất hiện.

28-01-1925 , lúa mì giao tháng 5 được bán với giá cao nhất 2.0 điểm 7/8 cho mỗi dạ. ngày 11-02-1925 thị trường giảm xuống tới 1.77 điểm ½.

Trên toàn thời gian tăng giá của lúa mì có một loại hàng hóa khác – lúa mạch – nó có giá tăng hấp dẫn hơn cả lúa mì. Thế nhưng thị trường lúa mạch – rất nhỏ so với thị trường lúa mì, cho nên nó được so sánh như một loại cổ phiếu kém thanh khoản, mà chỉ cần thực hiện một giao dịch mua một cổ phiếu với một khối lượng không lớn cũng sẽ làm ảnh hưởng lớn tới giá.

Trong thời điểm giao dịch đã miêu tả ở trên, ngoài lúa mì thì thầy cũng có nhiều giao dịch lớn khác trên thị trường, và những người khác nữa, họ cũng có những giao dịch lớn không kém. Một trong những giao dịch đó trên thị trường đó là gom một lượng lớn khoảng vài triệu dạ trên thị trường tương lai, bổ xung thêm vào hàng triệu dạ đã mua thêm lúa mì để có thể củng cố vị trí của mình, ngoài ra họ cũng mua một lượng lớn lúa mạch. Vì lúa mạch và lúa mì có quan hệ mật thiết với nhau, nếu lúa mì xuống thì lúa mạch cũng khó đứng yên do tâm lý. Khi mà lúa mạch tăng giá thị họ lại hô nhau mua thêm lúa mì và …

Như đã nói trước, thị trường lúa mạch nhỏ hơn nhiều so với thị trường lúa mì, chỉ cần một lệnh tương đối khi được thực hiện cũng có thể làm ảnh hưởng tới giá của lúa mạch. Hầu như tất cả những lần sự dụng mối liên hệ này ví dụ làm tăng giá lúa mạch, thì khi đó lúa mỳ lại được giao bán với mức giá cao hơn.

Phương pháp này tiếp tục thành công, khi mà xu hướng biến động chính chưa đạt tới đỉnh của mình. Khi lúa mì chuyển sang điều chỉnh, lúa mạch tương ứng giảm theo, giá của nó từ đỉnh cao 28-01-1925 là 1$.82 điểm ¼ rơi còn 1.54, tức bị giảm 28.1/4 cent so với giảm 28.3/4 cent khi thị trường điều chỉnh vào 2-3. Lúa mì tháng 5 hồi phục trong giới hạn 3.7/8 cent so với đỉnh trước đó, được bán với giá 2.02$, nhưng lúa mạch hiện tại không đủ động lực để khôi phục như lúa mì, giá của nó chỉ là 1,70 điểm 1/8 tức bị giảm 12.1/8 điểm so với đỉnh trước đó của nó.

Khi đó thầy rất bám sát thị trường, thầy lo lắng về một yếu đó nào đó trong biến động hiện nay là không đúng, bởi trong toàn thời gian tăng mạnh của thị trường, sự tăng của lúa mạch và lúa mì luôn gắn liền với nhau. Bây giờ thay vì trở thành kẻ dẫn đầu tăng giá trong ngành ngũ cốc thì nó lại đứng lại. Lúa mì đã lấy lại gần như hết phần điều chỉnh không đúng của mình, trong khi lúa mạch không thể tăng. Đó là một điểm mới trong biến động của 2 hàng hóa này.

Trước tình hình đó, thầy đã phân tích nguyên nhân chủ yếu, tại sao lúa mạch lại không tham gia vào quá trình hồi phục như lúa mì? Nguyên nhân rất nhanh chóng được hé mở. Rất nhiều nhà đầu tư hứng thú với thị trường lúa mì, nhưng không hứng thú với lúa mạch. Nếu như đây là thị trường của một nhà đầu tư nào đó, thì tại sao anh ta lại đột nhiên tránh xa nó? Thầy kết luận rằng anh ta không có hứng thú với lúa mạch và đã rút lui, hoặc là cảm thấy quá nặng khi đầu tư cả 2 thị trường, anh ta bắt buộc phải chọn 1 cho nên anh ta đã chọn thị trường thanh khoản hơn, bởi nếu chơi ở thị trường lúa mạch sau khi tăng nóng trong thời gian dài, nếu thị trường có biến anh ta sẽ không thể chạy kịp.

Ở đây thầy đi tới suy nghĩ rằng, chẳng có ý nghĩa gì khi anh ta ở thị trường lúa mạch hay là ngoài thị trường đó – ý nghĩa chính là, vào thời điểm cuối cùng, dưới cái nhìn của thị trường kết quả cũng giống như nhau, cho nên thầy quyết định kiểm tra lý thuyết của mình.

Sau giao dịch bán lúa mạch với giá 1.69 3/4 , và tìm kiếm vị trí thực sự của biến động trên thị trường lúa mạch. Thầy sử dụng lệnh bán 200.000 dạ lúa mạch theo giá thị trường. Khi thầy đặt lệnh đó, lúa mì đang được giao dịch với giá 2.02. Trước khi lệnh đó được thự hiện, lúa mạch giảm 3 cent trên mỗi dạ, và chỉ sau 2 phút khi lệnh đó được thực hiện, giá lại tăng lên 1.68 ¾.

Với việc thực hiện lệnh đó thầy tìm thấy rằng, trên thị trường này không có nhiều những giao dịch. Thế nhưng, thầy vẫn chưa tin tưởng lắm vào điều đó có thể khảng định được vấn đề, cho nên thầy tiếp tục đặt lệnh bán thêm 200.000 dạ nữa, kết quả thu được cũng như lần giao dịch bán đầu tiên. Giá gảm xuống 3 cent trước khi lệnh được khớp, nhưng sau khi lệnh được khớp, nó hồi phục chỉ 2 cent so với 3 cent trước đó.

Chính vì thế mà thầy vẫn còn nghi ngời vào sự phân tích vị trí của biến động thị trường, và thầy đặt lệnh thức 3 đó là bán tiếp 200.000 dạ nữa, và kết quả lại như vậy, thị trường giảm nhưng lần thứ 3 này thì không có sự tăng giá trở lại nữa. Nó tiếp tục giảm bởi chính nội lức không đủ của mình.

Đó chính là một sự báo trước, mà thầy quan sát và chờ đợi nó từ lâu. Nếu như ai đó giữ những giao dịch lớn trên thị trường lúa mì và vì một nguyên nhân nào đó không bảo vệ cho thị trường lúa mạch ( nguyên nhân vì sao lại vậy thầy không quan tâm tới), thầy cảm thấy rất tin tưởng rằng anh ta sẽ không hoặc không thể giữ được sự tăng trên thị trường lúa mì. Vì thế thầy nhanh chóng đặt lệnh bán 5.000.000 dạ lùa mì giao tháng 5 với giá thị trường (bán khống). Nó được bán với giá từ 2.01 tới 1.99 đô la. Cũng trong tối đó nó đóng cửa ở mức gần 1.97$ còn lúc mạch ở 1,65$. Giá đang giảm theo đúng suy đoán của thầy. Thầy rất vui khi biết rằng giao dịch cuối cùng của mình được khớp thấp hơn 2.00 $, bởi vì 2.00$ như trước đó thầy phân tích chính là một điểm cơ sở và hiện nay giá đã giảm qua điểm cơ sở này, thầy cảm thấy rất tin tưởng vào vị thế của mình. Rất tự nhiên, trong thầy không có một tín hiệu nguy hiểm nào về giao dịch này.

Sau một vài ngày thầy mua bù lại lúa mạch đã bán khống, lượng mà thầy đã bán chỉ để kiểm tra thị trường và xác lập vị thế của mình trên thị trường lúa mì, và giao dịch đó lại thu được một lợi nhuận khoảng 250.000$.

Nhưng trong thời gian đó thầy lại tiếp tục bán khống lúa mì cho tới khi tổng giao dịch của thầy lên tới 15 triệu dạ lúa mì. 16-03, lúa mì tháng 5 đóng cửa ở mức 1.64 ½ , và sáng ngày tiếp theo tại Liverpool mở cửa ở giá thấp hơn 3 cent, và điều này làm cho thị trường Mỹ mở cửa ở gần 1,61$ trong buổi sang hôm sau nữa.

Khi đó thầy làm một việc, mà như những kinh nghiệm đã chỉ cho thầy rằng, không nên làm, thầy đặt lệnh mua 5.000.000 theo đúng giá của thị trường lúc mở cửa. Giá mở cửa là 1,61 $ thấp hơn cả 3 cent so với giá đóng cửa ngày hôm trước. Nhưng đó cũng là một dấu hiệu nguy hiểm, bởi khi mua vào mà giá không tăng coi như đã thất bại. Giá mở cửa hôm đó giao động động khoảng 1,61-1,54 $. Từ những dữ kiện đó thầy tự nói với bản thân rằng “ đó là bài học cho bản thân vì đã phá bỏ những quy tắc đúng đắn”. Nhưng đó lại là một trường hợp của bản năng tự nhiên của con người. Giá vượt qua điểm cơ sở 1,61 trên đường xuống nhưng thầy vẫn mua vào. Ngay sau khi lệnh thực hiện, thầy nhận ra sai lầm của mình.

Ngay khi thầy nhìn thấy mức giá 1,54$ thầy đặt một lệnh khác mua 5 triệu dạ lúa mì.  Ngay sau khi đó thầy thu được một tin nhắn: “ lệnh mua đã được khớp với giá trung bình 1,53$”.

Một lần nữa thầy vào thị trường, mua tiếp 5 triệu dạ. Sau vài phút thầy nhận dc tin nhắn: “ đã khớp lệnh mua với giá 1,53$”. Sau đó thầy yêu cầu tính toán lại tài khoản của mình từ khi bắt đầu đặt lệnh đầu tiên, thầy thu được như sau:

“ 5.000.000 dạ đầu tiên được khớp để bù lại lệnh bán khống đầu tiên”

“  5.000.000 thứ 2 để bù lại lệnh bán khống thứ 2”

“ còn đây là tính toán theo lệnh thứ 3 của ngài”

“ 3 ½ triệu dạ với giá trung bình 1.53”

“ 1  …                                         1,53 1/8”

“ 500.000 …..                               1,53 ¼”

Giá thấp nhất của ngày là 1,51$ , và ngày tiếp theo lúa mì quay lại mức giá 1.64$. Đó là lần đầu tiên trong tất cả kinh nghiệm của mình, khi mà thầy được khớp lệnh gần như không giới hạn trong trò chơi của mình. Thầy đặt lệnh mua 5 triệu dạ với giá 1,61 – thị trường mở cửa theo giá của thầy nhưng sau đó giảm 7 cent tới 1.54, như vậy đã khác nhau tới 350.000$.

Không lâu sau, thầy ngẫu nhiên ở tại Chicago, và hỏi một người, người có trách nhiệm đặt những lệnh của thầy, đã giúp thầy có được những lệnh khớp gần như không giới hạn trong thị trường hàng hóa của mình. Ông ta thông báo với thầy rằng, ông ta ngẫu nhiên biết rằng trên thị trường có lệnh bán 13,5 triệu dạ lúa mì “ theo giá thị trường”. Trong tình hình đó, ông hiểu rằng, không phụ thuộc vào việc thị trường mở cửa ở giá thấp hơn, sẽ có rất nhiều lúa mì sẽ được bán theo giá thấp hơn sau khi thị trường mở cửa, cho nên ông ấy đơn giản chỉ đợi cho kết thúc khoảng biến động đầu tiên và đưa lệnh của thầy vào theo “ giá thị trường”…

Ông nói rằng, nếu như những lệnh đó được đưa vào như những người khác vẫn làm thì những lệnh này sẽ bị rơi vào một cái hố, thị trường sẽ vượt qua mức giá lúc mở cửa…

Lợi nhuận từ thương vụ này của thầy đưa về cho thầy 3 triệu $.

Điều đó mô tả giá trị của những hứng thú riêng trong ngắn hạn trên thị trường đầu cơ, bởi vì những giao dịch ngắn hạn hấp dẫn người mua, và những người mua này hành động một cách chắc chắn và cần thiết trong thời điểm hỗn loạn.

Bây giờ những giao dịch dạng như vậy không tồn tại nữa, bởi vì ủy ban những hàng hóa trọng yếu giới hạn kích thước của mỗi giao dịch của bất kỳ người nào trên thị trường ngũ cốc tối đa chỉ được 2 triệu dạ, và trên mỗi một loại hàng hóa thì không được có quá nhiều những giao dịch ngắn hạn (bán khống) theo quy định mới.

Cho nên thầy cho rằng những ngày đầu cơ kiểu cũ đã qua đi. Trong tương lai những vị trí đó sẽ được thay thế bởi những người “nửa đầu cơ”, họ không thể làm được những giao dịch lớn như trước trên thị trường một cách nhanh chóng, nhưng có thể kiếm được nhiều tiền hơn trong một khoảng thời gian và có thể sẵn sàng giữ nó. Khi bạn giữ nó thì đó có thể coi là đầu tư rồi cho nên lúc này khái niệm đầu cơ và đầu tư không còn cách xa như trước đây nữa. Thầy tin rằng, những nhà “nửa đầu cơ” thành công sau này sẽ hành động chỉ trong tâm lý đúng thời gian và cuối cung, kết quả thu được một % lợi nhuận lớn từ mỗi lần biến động không kể lớn nhỏ, hơn là chỉ đơn thuần đầu cơ theo đúng nghĩa của nó.